Hồi ký
Back to home page
 
Không thể không nhắc tới
Friday, December 29, 2006


--------------------------------------------------------------------------------
Cảnh yên ấm của vợ chồng thương binh Quách Văn Trường tại căn chung cư.

(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Nguyên Huy/Người Việt
Sau năm sáu năm trời được báo chí Việt Mỹ nhắc tới, ca tụng, vinh danh khi vợ chồng anh tới Mỹ vào năm 1986, người thương binh Việt Nam Cộng Hòa Quách Vĩnh Trường đã cùng người vợ thân yêu Nguyễn Thị Bích Kiều và cậu con trai duy nhất Quách Vĩnh Tiến an vui trong một cảnh sống gia đình yên ấm tại một xứ tự do đầy tình người từ trên 10 năm nay. Nay thì cậu con trai duy nhất đó đã thành nhân, tốt nghiệp đại học, hiện là thiếu úy trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ (sắp chuyển sang không quân) và là một nhân viên xuất sắc được nhiều lần khen thưởng của hãng Enterprise .
Trong một căn chung cư hai phòng mà anh Trường cho biết la:ợ “được housing từ nhiều năm nay, nhưng nay sắp phải đổi sang một phòng vì cháu Tiến đã đi làm, cư ngụ ở nơi khác, chỉ còn hai vợ chồng nên housing chỉ còn cho ở có một phòng,” cả hai anh chị Quách Vĩnh Trường và Bích Kiều đều niềm nở tiếp chúng tôi với những nét vui tươi hiện rõ. Ðiều đập ngay vào thị giác chúng tôi là cảnh một gia đình của người Việt đang sống trong an vui, hạnh phúc. Anh Trường ngồi trên chiếc xe lăn, dù chỉ còn một chân và một cánh tay, mà bàn tay cũng chỉ còn có bốn ngón, nhưng rất nhanh nhẹn di chuyển từ nơi làm việc chiếm trọn một góc nhà với những máy móc điện tử về computer design... qua phòng khách và phòng ăn là nơi chúng tôi xin ngồi để nói chuyện cùng anh chị.
Chị Bích Kiều thì luôn săn sóc cho anh, những sự săn sóc mà chúng tôi nhận thấy không phải cho một người tàn tật cần được giúp đỡ, mà là sự săn sóc tràn đầy thương yêu của một người vợ thắm thiết yêu chồng.
Không thể không nhớ lại những gì mà báo chí Việt Mỹ đã viết về anh. Việt ngữ thì có nhật báo Người Việt (Tháng Giêng, 1995), đặc san Ða Hiệu (số 10), nguyệt san Thương và cuốn Vẻ Vang Dân Việt... Mỹ thì có The Los Angeles Times và The Orange County Register (Tháng Giêng, 1995) và Pháp ngữ có Le Courier d'Extrème Orient từ... Tháng Tám, 1974. Tất cả các cơ quan truyền thông trên đều ca tụng hết lời về ý chí vượt hoàn cảnh tật nguyền của anh để đạt được những thành công mà ít người bình thường khó có thể đạt được. Ðó là thủ khoa luật ngành tư pháp niên khóa 1973-1974 trường Ðại Học Luật Sài Gòn. Ðó là sinh viên xuất sắc (Outstanding Performance) của Ðại Học Cộng Ðồng Orange Coast College về Visual & Fine Art, về Computer Graphics/Printing. .. vào các năm 1991, 1992. Nhưng điều mà chúng tôi thấy ít được các báo nhắc đến là tâm trạng của anh vào cái phút làm thay đổi hẳn cuộc đời mình, đang là một chiến binh nơi trận tiền thành một thương phế binh. Và điều thứ hai là mối tình tuyệt vời của cô nữ sinh viên trường luật nhận lập gia đình với một người tàn phế.
“Thời gian sau này, có dịp hồi tưởng, đôi lúc tôi cũng có nhận định, phân tích về cái phút định mệnh ấy,” người thương binh Quách Vĩnh Trường mơ màng kể lại với chúng tôi bằng một thần thái tâm sự, không nhuốm một chút khoe khoang gì.
“Phải nói cho có đầu đuôi chứ,” anh tiếp. Anh kể: “Tại sao tôi lại xin tình nguyện vào lính, khóa 20 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt trong khi tôi đang theo học Ðại Học Khoa Học (MPC) ở Sài Gòn. Nhớ lại thì lúc bấy giờ còn là thời ?ệ Nh?t Cộng Hòa vào những năm cuối của thập niên 50, đầu thập niên 60. Chính phủ Ngô Ðình Diệm vừa thống nhất được quân đội và đang phải đối mặt với cuộc chiến từ miền Bắc.”
Anh kể tiếp: “Vào lúc ấy thì thật sự tôi cũng chẳng hiểu gì về cộng sản mà bảo vì lý tưởng quốc gia cũng không hẳn đúng. Nhưng ý thức được rằng đất nước đang có chiến tranh, một thứ chiến tranh tiêu hao, không rõ mặt nên mong muốn một sự dấn thân. Phải nói lúc ấy tuổi trẻ đang được chế độ thôi thúc. Những cuộc biểu tình chống cộng sản của anh chị em Chu Văn An, của phong trào Thanh Niên Cộng Hòa cũng ảnh hưởng đến những suy nghĩ của tôi phần nào.”
“Hơn nữa, trường Sĩ Quan Ðà Lạt khi ấy được tổ chức lại mà báo chí trong và ngoài nước nhận xét là một quân trường lớn và có phương tiện huấn luyện tối tân vào bực nhất Ðông Nam Á, nên quyến rũ tuổi trẻ chúng tôi lắm. Do vậy mà khi thấy được trúng tuyển trong kỳ thi tuyển mộ trước cả ngàn thí sinh, tôi không khỏi không kiêu hãnh,” ông Trường tiếp.
Ông chia sẻ tiếp: “Khóa 20 Võ Bị Ðà Lạt, vì nhu cầu tình hình, bị rút ngắn còn có hai năm học cả về quân sự lẫn văn hóa, thay vì bốn năm. Ra trường, được chọn đơn vị, tôi xin về Sư Ðoàn 7 vì lý do gần nhà. Nhưng khi nắm đơn vị rồi, thấy cảnh cực khổ gian nan của anh em chiến binh dưới quyền, tôi cảm thấy khó mà rời xa anh em cho được. Những khi đụng trận về, một hai “đứa con” bị hy sinh, thấy cảnh não lòng của những vợ con lính, của những mối tình đầu đời bị cắt ngang, những vành khăn tang cô phụ, lòng tôi luôn quặn thắt và đã coi sinh mạng của anh em như chính sinh mạng của mình, phải bảo vệ, phải giữ gìn.”
Phút định mệnh của Quách Vĩnh Trường.
Nguyên Huy
Tôi nhìn kỹ nét mặt của anh để cố tìm xem có một sự cường điệu nào không. Nhưng anh vẫn trong tư thế cũ, vẫn không nhìn tôi, anh nói, anh kể như nói với chính mình. Anh đang sống lại cái giây phút định mệnh đó.
Tôi chợt cảm thấy hổ thẹn vì những nghi ngờ vừa thoáng hiện. Trong tâm trí tôi lại bùng lên những dòng chữ trên các trang báo Việt, Anh, Pháp đã viết về anh. Ðã quá đủ để mọi người tôn xưng anh, đâu còn cần phải cường điệu hóa câu chuyện nữa.
Bên tai tôi giọng nói của anh vẫn trầm tĩnh. “Trước khoảng ba mươi binh sĩ dưới quyền, tôi đang phân chia công tác cho một phiên trực chiến vì đơn vị vừa tới địa điểm hành quân. Lúc đó trời cũng đã nhá nhem tối rồi, còn đang chỉ định các vị trí cho các toán thì tôi bỗng thấy một vật lăn tròn ngay trước mặt tôi và hàng quân. Một trái lựu đạn. Nó sẽ nổ. Ba mươi người lính của tôi sẽ banh xác. Ðó là những ý nghĩ lóe ngay lên trong đầu tôi lúc đó...”
Anh ngừng lại, trầm tư, lắng đi một lúc. Anh đang lục soạn trí nhớ để cố trung thực. Tôi hiểu thế và chờ đợi.
“Sau này, cũng có nhiều lúc tôi hồi tưởng lại cái giây phút định mệnh đó và tôi đã không thể nào tìm ra được câu trả lời là tại sao lúc ấy tôi lại không nghĩ đến bản thân tôi, tại sao cái bản năng sinh tồn trong tôi lại không đẩy tôi chạy về hướng khác, lại không nằm sấp xuống trong tư thế tránh pháo kích mà chúng tôi đã thuần thục gần như thành một thứ bản năng. Mà, tôi lại nhảy ngay đến trái lựu đạn đang lăn tròn và giơ cao chân phải tính đá tung trái lựu đạn ra khỏi trước hàng quân. Có phải định mệnh không hay từ cái tình thương yêu lính nó hằn sâu trong tâm trí, nó đã vào nơi vô thức để rồi hiện ra thành hành động mà lý trí không kịp xét được.” Anh lại ngưng nói. Lại trầm tư. Và lại cất lên tiếng nói đều đều như trước đó. “Một giây thôi, chỉ một giây lúc đó, tôi cảm thấy nhẹ bỗng, không một cảm giác gì. Hình như có tiếng lao xao và rồi, thanh vắng lắm.”
Chị Bích Kiều mang đến cho anh ly nước lạnh, lặng lẽ ngồi xuống cái ghế bên anh, nhìn sâu vào đôi mắt lạc thần của chồng. Chị nhẹ nhàng hỏi: “Anh có mệt không?”
Anh Quách Vĩnh Trường mỉm cười nhìn vợ, thầm cảm ơn những chia sẻ. Nụ cười của anh méo mó vì một bên lưỡng quyền xương bị vỡ, vết sẹo kéo má anh lên khi anh cười. Anh lại tiếp câu chuyện. “Không biết bao nhiêu ngày sau thì tôi tỉnh lại. Cảm giác đầu tiên là thấy mình như vừa đi xa về, định nhướng mắt tìm xem có ai thì chợt cảm thấy một nửa thân mình nhẹ bỗng.” “Một tiếng nói quen quen thốt lên: “Ông Thầy, em đây... này, anh em ơi, thiếu úy tỉnh lại rồi.” “Nhiều bước chân chạy lại. Có những bóng áo trắng. Có những màu áo trận hình như còn lem bùn đất. Và tôi lại chìm đi, xa khuất. Nhưng bên tai còn vẳng nghe được những tiếng lùng bùng “lại ngất đi rồi”.
“Bây giờ thì tôi không còn nhớ tôi đã có cảm giác gì, như thế nào khi tôi biết tôi đã trở thành phế nhân. Nhưng rõ ràng cho đến bây giờ, tôi vẫn có được cảm giác vững mạnh rằng tôi không thể là phế nhân. Dù gì thì tôi cũng sẽ vươn lên được. Bằng cách nào đó thì tôi chưa biết.
Chính vì thế mà khi được xuất viện, ra hội đồng miễn dịch, được xếp vào cấp độ tàn phế 170%, tôi đã có ngay ý nghĩ phải làm sao xin được trở lại quân ngũ, tiếp tục phục vụ quân đội, tiếp tục cùng anh em chia sẻ gian nguy, khổ cực của người lính. Ðơn xin của tôi không có cấp nào giải quyết được, kể cả đã lên tới Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng tôi vẫn kiên trì một mực xin được cứu xét. Sau cùng thì đơn phải trình lên tới Hội Ðồng Chính Phủ và Thủ Tướng Trần Văn Hương đã đặc cách ký cho tôi trở lại quân đội, phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị. Cũng để khẳng định với mình rằng không thể là phế nhân được nên tôi đã xin phép đơn vị cho ghi danh vào Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn. Năm năm, gồm cả một năm phải qua Tây Ðức làm tay chân giả do một tổ chức là “Làng Hòa Bình” giúp cho, tôi cố gắng, không phải cố gắng về tâm trí trong sự học mà cố gắng về di chuyển khi thân hình chỉ còn một tay và một chân, mà cái bàn tay còn lại cũng chỉ còn có 4 ngón, tôi cố gắng lấy đủ 4 chứng chỉ và tốt nghiệp thủ khoa Ban Tư Pháp của niên khóa 1974.
Chính vào thì gian này, tôi được quen biết với nhà tôi.

Mối tình tuyệt vời của cô nữ sinh viên trường Luật.
Nguyên Huy/Người Việt
Tóm tắt hai kỳ trước: thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Quách Vĩnh Trường, bị mất hẳn một tay và một chân và nhiều thương tích trên mặt, trên người, trong một vụ hy sinh hất trái lựu đạn do địch tung đến để cứu trên 30 đồng đội. Anh đã xin được qua Hoa Kỳ trong diện tị nạn vào năm 1986 và theo học tại các trường đại học cộng đồng Orange Coast College, Costa Mesa. Thành tích học xuất sắc của anh, dù đã tàn phế, khiến các báo The Los Angeles Times, The Orange County Register, Người Việt... có nhiều bài viết ca tụng anh vào những năm 1991 cho đến 1995.
Cho đến nay đã trên 15 năm trời tạo lập lại cuộc đời cùng người vợ hiền Nguyễn thị Bích Kiều và giáo dục được người con trai duy nhất Quách Văn Tiến thành nhân, tốt nghiệp đại học và hiện là một sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ.
Cuộc sống vươn lên trong nghịch cảnh của anh khiến chúng ta “không thể không nhắc tới”. “Tôi gặp anh Trường vào năm thứ nhất tại Ðại Học Luật Khoa,” chị Bích Kiều thong thả kể. Chị nói tiếp: “Hình ảnh người thương binh duy nhất trong giảng đường trường luật khiến mấy trăm sinh viên nam nữ chúng tôi ai cũng đều lưu ý. Anh luôn được ngồi hàng đầu, dù anh có đến muộn, vì ai cũng sẵn sàng nhường chỗ cho anh. Cũng phải nói rằng những chỗ ở hàng đầu rất có lợi là theo dõi sát nút được những lời thầy giảng, ghi chép được đầy đủ những chi tiết cần thiết, điều đó rất có lợi là về nhà chỉ cần ngó lại bài ghi là nhớ được gần hết để khi học “cours” đỡ được nhiều thì giờ hơn.”
Người vợ hiền của anh Trường kể tiếp: “Hình ảnh anh Trường với chúng tôi là hình ảnh của chiến tranh đang tàn khốc và gợi đến những kinh hoàng mà cuộc chiến ấy đang mang lại cho tuổi trẻ chúng tôi. Ðó là vào năm 1971, 1972, những năm mà trận chiến diễn ra sôi sục ở miền Trung mà báo chí quen gọi là Mùa Hè Ðỏ Lửa. Cho nên hình ảnh anh Trường không chỉ riêng tôi thấy, mà bạn bè nam nữ chúng tôi đều nghĩ rằng đó là thân phận của tuổi trẻ chúng tôi.” Chị Bích Kiều chia sẻ tiếp: “Dù sống tại thủ đô Sài Gòn, chúng tôi rất gần gũi với chiến tranh, gần gũi từ những thân nhân có mặt trong quân đội, gần gũi từ những đêm rực sáng hỏa châu ngoài ở ngoại ô Sài Gòn. Gần gũi vì những đêm nghe tiếng pháo kích mà nhà văn Nhã Ca đã có hẳn một cuốn tiểu thuyết mang tên “Ðêm Nghe Tiếng Ðại Bác.” Gần gũi vì những tiếng ca trong hầu hết các chương trình nhạc của các đài Quốc Gia Sài Gòn, Quân Ðội, các đài truyền hình Số 9... với Trịnh Công Sơn là “Người chết hai lần,” với Nhật Trường là “Anh không chết đâu anh,” với Phạm Duy là “Người tình Không Chân Dung” và với hầu hết các nhạc sĩ không ai là không nhắc nhớ đến chiến tranh, dù có muốn lẩn trốn giấu mặt như một số nhỏ các nhạc sĩ chỉ làm nhạc tình lãng mạn.”
Chị Bích Kiều ngừng nói như để xem tôi có theo kịp không trước những tâm tình mà có lẽ lần đầu tiên chị đã thổ lộ. Nhân lúc chị chạy vào trong bếp, có lẽ để lo món ăn cho chồng, anh Quách Vĩnh Trường cũng tỏ ra ngạc nhiên nói với tôi: “Nói thật với anh, trong suốt những ngày tôi được báo chí Việt Mỹ tìm đến hỏi chuyện trước đây, nhà tôi chưa bao giờ chịu tham gia vào những cuộc phỏng vấn cả. Không hiểu sao lần này bà ấy lại thao thao câu chuyện thế. Có lẽ vì anh khéo gợi chuyện làm cho bà ấy không có cảm giác bị phỏng vấn.”
Chị Bích Kiều trở ra, anh Quách Vĩnh Trường như muốn để cho chị được tự nhiên nên lăn chiếc ghế lăn về phía bàn làm việc, cách xa chỗ chúng tôi, chăm chú vào những hình ảnh cũ đã phai mờ của anh em chiến hữu cũ nhờ làm mới lại.
“Ðến đâu rồi nhỉ?” Chị Bích Kiều hỏi tôi trong vẻ tự nhiên. Nhìn chị, tôi thấy chị như một người khác lúc tôi mới gặp. Không còn cái vẻ khép nép của cái bóng sau người chồng, mà hồn nhiên vui tươi như một cô gái trẻ đang tâm tình về chuyện tình của mình.
Chị cựu sinh viên luật kể tiếp: “Thật ra thì trong hai năm đại học ấy, chỉ là những lần gặp nhau trong khuôn viên đại học luật. Một vài câu chuyện thăm hỏi về bài vở, cua cáy. Tuyệt nhiên, chúng tôi không ai muốn hỏi anh về những thương tật của anh vì sợ đau lòng cho anh và cũng vì sợ ngay cả cho chính mình vì thời buổi chiến tranh mà, ai đâu biết được số phận. Rồi bẵng đi không thấy anh đến lớp một thời gian dài. Có lần hỏi ra mới biết là anh được một cơ quan thiện nguyện quốc tế giúp cho qua Tây Ðức làm tay chân giả cho anh. Mọi người gần như đã quên hẳn anh, phần vì những năm học thứ ba, thứ tư khó khăn hơn, gấp rút hơn và cũng phần vì chiến tranh tới mức độ không ai còn có thể nghĩ được gì ngoài cái bản thân mình. Lúc ấy, tôi tốt nghiệp được văn bằng cử nhân luật và vì chưa kiếm được việc làm nên tôi lại tiếp tục ghi danh học lên cao học.”
Tôi chợt cắt ngang câu chuyện: “Chắc gia đình chị khá giả. Có ai trong quân đội lúc bấy giờ không?”
Chị vân vê ly nước mời tôi đã nguội như phân vân không biết có nên tiết lộ về hoàn cảnh gia đình, nhưng rồi chị ngồi thẳng lưng trả lời tôi: “Gia đình tôi lúc ấy không có ai trong quân đội hay chính quyền Cộng Hòa cả. Cha tôi là một thương gia, có mở một tiệm thuốc tây ở Thủ Thừa, Long An, do chị thứ hai tôi có bằng dược sĩ. Ông nội tôi là điền chủ nên gia đình không lúc nào túng thiếu và đã lo đủ cho bảy người con, bốn gái, ba trai được ăn học đầy đủ.”
“Ðể tôi kể tiếp,” chị nói và tiếp tục: “Thế rồi khi ấy vào một buổi sáng Tháng Tư năm 1974, chiếc Suzuki Dame của tôi bị hỏng, tôi đến trường bằng xe buýt. Xe chật, người đông chen chúc nhau lên xuống. Chợt tôi thấy anh chật vật leo lên với tay chân giả. Trên xe, anh cũng phải đứng trong thế khó khăn mà không có ai nhường chỗ ngồi cho anh cả. Ðược nửa đường từ Phú Thọ Hòa đến góc Phan Ðình Phùng-Duy Tân mới có người gần chỗ tôi đứng bỏ ghế xuống xe. Tôi vội tranh lấy chỗ và gọi anh tới. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ tới cái vẻ thản nhiên của anh khi anh có chỗ ngồi. Hình như anh thấy không cần thiết lắm. Ðiều đó làm cho tôi ngạc nhiên. Anh như không cần đến sự giúp đỡ, như không muốn có một biệt lệ nào cho anh.” “Ðến nơi xuống, chúng tôi phải đi bộ một quãng mới tới trường. Tôi nhớ trên quãng đường đi bộ tới trường ấy tôi và anh đã trò chuyện vui vẻ. Anh cho biết vừa từ Tây Ðức về. Cái tay và chân giả mới đã làm cho anh thoải mái hơn trước. Thoạt nhìn, anh đã có lại hình dáng người bình thường. Tôi hỏi chỗ anh ở thì được biết rất gần nhà tôi. Anh ở trong khu Lữ Gia mà tôi thì ở đường Lê Ðại Hành, cách nhau chỉ khoảng 100 thước,” chị Bích Kiều tiếp tục. Chị kể tiếp: “Thế là tôi đề nghị mỗi sáng tôi sẽ đón anh đến trường vì tôi còn đang theo lớp cao học mà anh thì sắp hoàn tất năm thứ tư. Cuối niên khóa ấy anh tốt nghiệp cử nhân luật với thứ hạng mà chúng tôi đều bái phục. Anh đậu thủ khoa mà điểm đậu cách người thứ hai khá xa. Từ đó, chúng tôi quen nhau như những người bạn thân thiết nhưng hình như vẫn chưa phải là tình yêu gì. Trong khi đó thì tôi cũng có những người bạn trai khác trong đó có một người đã tỏ tình với tôi khi anh được miễn dịch vì lý do gia cảnh (con một).”
Tôi chợt nhìn kỹ chị Bích Kiều. Năm nay chị đã ở tuổi gần 60 nhưng cái dáng người tầm thước hình như chưa bị thời gian xóa nhiều nét thanh tân ngày nào, cho phép chúng ta nghĩ đến một sắc dáng hiền hậu của cô nữ sinh viên trường luật mấy chục năm trước. (Còn tiếp)
Không Thể Không Nhắc Tới (bài cuối)
Tuesday, January 02, 2007
--------------------------------------------------------------------------------

Hình bên: Một số tài liệu về thương phế binh Quách Vĩnh Trường gồm sắc lệnh thăng thưởng Bảo Quốc Huân Chương cho Quách Vĩnh Trường, các bài báo của LA Times, Register, Nguoi Viet, Vẻ Vang Dân việt viết về Quách Vĩnh Trường. (Hình: Nguyên Huy) Gian Khổ nhưng Hạnh Phúc bên nhau.
Nguyên Huy
Tóm tắt các kỳ trước:
Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Quách Vĩnh Trường, khóa 20 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, bị thương tật mất cả một tay và một chân cùng nhiều thương tích khác trên mặt và thân thể trong sự hy sinh cứu hơn 30 đồng đội khi nhảy đến đá văng trái lựu đạn do địch ném tới. Bị tàn phế nhưng anh đã cố vươn lên bằng tất cả ý chí và khả năng của mình. Anh vẫn xin lưu ngũ và tốt nghiệp được thủ khoa cử nhân luật vào năm 1974. Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975 anh kết hôn với một bạn đồng học tại trường luật là Nguyễn Thị Bích Kiều, sanh được một cháu trai là Quách Văn Tiến, nay đang là thiếu úy trong Quân Lực Hoa Kỳ. Anh đưa được gia đình qua Mỹ trong diện tị nạn chính trị và cũng là sinh viên xuất sắc của nhiều đại học cộng đồng ở Nam California. Vào những năm đầu thập niên 1990 anh được nhiều báo chí Việt-Mỹ phỏng vấn, ca tụng về ý chí của anh trong cuộc sống “không chịu là một phế nhân”. Chính điều này đã khiến cô nữ sinh viên cao học luật nể phục và đã quyết định cùng anh tạo lập tương lai khi đất nước đổi chủ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Chị Bích Kiều cho biết tiếp, vào năm 1977, toàn dân cả Bắc lẫn Nam phải chịu vô vàn khổ cực trong những chính sách mới của nhà cầm quyền mới thu được toàn vẹn lãnh thổ. Ðối với dân miền Nam đã có một cuộc sống ổn định trước đó mà phần lớn đã khá sung túc thì sự khổ cực còn gia tăng hơn nữa. Những chính sách đổi tiền, tiêu diệt văn hóa phẩm miền Nam, đi vùng kinh tế mới, đi dân công thực hiện các công trình đập Trị An v.v... luôn là những cái bóng u tối đè lên cuộc sống mọi người tạo ra những hãi sợ, kinh hoàng, nghi ngờ, không tin tưởng nhau nữa. Chị kể: “Lúc ấy mà có được một người cho mình hoàn toàn tin tưởng là một điều hạnh phúc vô cùng. Bởi vì, ở đó ta có thể tìm được sự an ủi, tìm được nơi trú ẩn cho tâm hồn, trút được những lo nghĩ, buồn phiền mà không sợ bị tội vạ. Do đó với tôi là anh Quách Vĩnh Trường. Chúng tôi thành hôn với nhau trước sự chống đối dữ dội của gia đình tôi. Ba tôi nói nặng rằng nếu cứ lấy nhau thì gia đình sẽ bỏ mặc không còn biết gì đến tôi nữa. Cho nên chúng tôi đã phải qua những ngày thật gian khổ, đi bán bánh mì tiếp. Có những hôm cả hai vợ chồng đã đi khắp hang cùng ngõ hẻm khu Ngã Tư Bảy Hiền mà chẳng bán được cái bánh nào vì hầu như ai cũng đã cạn túi rồi, bỗng gặp nhau trong cùng một con hẻm thì chúng tôi cũng bật cười lên được. Có lẽ là để an ủi lẫn nhau. Chúng tôi mới bàn nhau thôi thì ráng không mắc cỡ nữa, về khu mình ở bán rong biết đâu bà con cô bác thương mà mua cho. Ðúng như dự đoán, ở hai khu Lữ Gia và Lê Ðại Hành chỗ chúng tôi ở lâu nay, bà con mua giúp cho, nên ngày nào cũng bán hết hàng.”
Lúc này anh Quách Vĩnh Trường lại lăn ghế đến gần chúng tôi. Anh bổ túc cho câu chuyện của vợ: “Tôi còn nhớ, có một ông cụ, gia đình có 3 người mà ngày nào cũng mua tới cả chục ổ, không biết để làm gì. Nhưng chúng tôi hiểu đó là sự giúp đỡ âm thầm của người dân đối với một thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Bởi vì như anh biết lúc ấy ai mà có cảm tình với binh lính cũ, nhất là với thương phế binh là liền bị công an phường khóm làm khó dễ đủ điều, có thể còn phải lên ‘làm việc’ với các cơ quan an ninh quận hay thành phố nữa. Cũng vào dịp này thì chúng tôi gặp lại được thương phế binh Trương Dưỡng đang có một cơ sở nhỏ làm bột mì giao ‘chui’ cho các lò bánh mì cũng ‘chui’ trong khu vực. Anh Dưỡng cho tôi chân phân phối hàng, từ đó cuộc sống của chúng tôi dễ thở hơn cho đến ngày chúng tôi được phái đoàn Mỹ gọi đi phỏng vấn.”
Câu chuyện cũ đã khiến cả hai anh Quách Vĩnh Trường và chị Bích Kiều vui ra mặt. Cảnh sống tương đối hiện tại, cha mẹ đã nghĩ lại, nhất là người con trai duy nhất đã thành nhân, hữu ích cho xã hội, có lẽ làm cho cả hai anh chị kiêu hãnh hơn cả.
Bây giờ thì cuộc sống của anh chị Trường cũng vẫn rất bận rộn, bận rộn suốt từ sáng đến tối, có hôm phải mua cơm tiệm về ăn. Chị Kiều có vẻ e lệ nói về chuyện này: “Lo giúp ổng, nhiều hôm nhìn lên thấy đã quá trưa, thổi nấu gì kịp nên chạy ra Food-to-go chỉ đại mấy món, ăn cho xong bữa rồi tiếp tục công việc của anh em nhờ cho khỏi lỡ việc của anh em.”
Tôi thắc mắc về công việc anh chị đang làm cho anh em. Anh Quách Vĩnh Trường vui vẻ cho biết: “Cũng chẳng phải là công việc hẳn hoi có lương lậu gì. Như anh cũng hiểu, chúng ta có cả một quá khứ mà đối với ai từng là chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đều rất hãnh diện về sự phục vụ của mình trong quân đội ấy. Cho nên nhiều người vẫn còn giữ được những tấm hình xưa, khi ở quân trường, lúc ngoài đơn vị hay là những ngày phép ngắn ngủi bên người yêu nơi hậu cứ, hay lễ thành hôn mà xe đưa dâu là những chiếc Jeep còn cần câu lúc lắc sau xe, có khi còn là cả những chiếc tăng M-41 kềnh càng nữa. Những tấm hình ấy nay đã mờ, phần nhiều là đen trắng. Nay tôi có thể phục hồi được qua màu. Tôi cũng có thể ghép thêm người hay bỏ bớt đi v.v... Rất nhiều chi tiết mà chúng ta có thể khai thác được từ kỹ thuật điện tử trong ngành computer graphics, design. Có những khi phải làm gấp cho anh em kịp triển lãm trong những buổi sinh hoạt khóa.”
Anh Quách Vĩnh Trường quay lại tủ sách với lấy một cuốn album dày, mở ra chỉ cho tôi những tấm hình mà anh vừa phục chế từ những tấm hình cũ, mờ, nhòe có khi chỉ còn lại 2/3 hình ảnh. Nhìn những tấm hình mới, sắc gọn, rõ nét, màu sắc hết sức tự nhiên không ai có thể biết được đó là một tấm hình vừa được phục chế. Bất chợt tôi nhận ra trong cuốn album này gần như có đủ hình các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa với quân phục và lon lá huy chương thật rõ. Quay hỏi anh, anh Quách Vĩnh Trường ngần ngừ một lát rồi mới trả lời: “Anh H. đang soạn một cuốn quân sử về tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, nhưng anh không muốn tiết lộ sớm những chi tiết về cuốn quân sử này. Anh có nhờ tôi phục chế lại một số hình ảnh các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa và tôi đã mày mò các tài liệu quân đội mình cũ để phục chế thật chính xác những huy chương quân đội, các dây biểu chương, các loại quân phục trên các tấm ảnh đã quá mờ này.”
Tôi nghĩ “thật là cả một quá khứ đang được anh chị Quách Vĩnh Trường tiếp tay làm sống lại”. Sự làm sống lại ấy không phải cho nhau sự an ủi hay kiêu hãnh gì mà là cho nhau cả một quá khứ phục vụ dân tộc đất nước mà biến thiên của lịch sử bị bóp méo của nhà đương quyền đang cố xóa nhòa đi trước các thế hệ kế tiếp.
Xin gửi đến anh chị Quách Vĩnh Trường một lời ngưỡng phục rằng: “Anh chị đã đứng trên mọi nghịch cảnh, thắng nó và đem lại vinh quang cho người lính Việt Nam Cộng Hòa, cho người phụ nữ Việt Nam.”
Viết xong ngày 2 Tháng Giêng năm 2007.